Các khóa học đã đăng ký

YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (PHẦN 1) | WELLBEING

Bài viết được viết bởi Bác sĩ Hoàng Văn Cường – Quản lý Dự án Sơ cứu nhanh - Giành sự sống.

Tổ chức Giáo dục Sức khoẻ Wellbeing

Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến việc mọi người có mắc bệnh đái tháo đường hay không. Ở đây, bao gồm các yếu tố có thể thay đổi được và không thể thay đổi được. Chúng ta cần biết những yếu tố này để chủ động thay đổi lối sống, phòng tránh mắc bệnh đái tháo đường. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ thống kê một số yếu tố liên quan không thay đổi được.

yeu-to-lien-quan-wellbeing

Một số yếu tố liên quan đến việc mắc bệnh Đái tháo đường nhưng không thay đổi được bao gồm: Dân tộc/chủng tộc, gia đình, di truyền, tuổi, sự phát triển của thai nhi...

1. Yếu tố Dân tộc/chủng tộc.

Mỗi chủng tộc người có tính nhạy cảm với Đái tháo đường type 2 khác nhau. Tần suất mắc ở người Ấn gốc Á cũng cao hơn người bản xứ ở Anh, Fiji, Nam Phi và trong vùng Caribê. Sự khác biệt về tần suất Đái tháo đường cũng được ghi nhận trong số các cộng đồng dân cư đa chủng tộc ở Hawaii và New Zealand, những người bản xứ Hawaii và Maori có tần suất cao hơn những chủng tộc khác [1].

2. Yếu tố gia đình. 

Theo Tổ chức Y tế thế giới, Đái tháo đường type 2 thường có liên quan đến tiền sử gia đình mắc. Nghiên cứu trên 573 người Bahrain từ 20 tuổi trở lên F.I. Zurba nhận thấy có đến 41,7% trường hợp có tiền sử gia đình có người mắc , trong khi đó ở nhóm người không mắc tỷ lệ gia đình có người mắc chỉ từ 16% - 23,3% [2].

3. Yếu tố di truyền.

Đái tháo đường type 2 xảy ra trên anh em sinh đôi đồng hợp tử nhiều hơn anh em sinh đôi dị hợp tử, điều này chứng tỏ yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc quyết định tính nhạy cảm đối với bệnh [3].

4. Yếu tố tuổi.

Tỷ lệ hiện mắc Đái tháo đường type 2 tăng dần theo tuổi. Ở nhóm dân có tỷ lệ mới mắc cao thì tỷ lệ hiện mắc type 2 cao nhất ở nhóm người trẻ (20-35 tuổi); trong  khi ở các nhóm người khác tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở lứa tuổi lớn hơn (55-74 tuổi). Nhìn chung tỷ lệ hiện mắc Đái tháo đường type 2 giảm ở những người trên 75 tuổi do tỷ lệ tử vong cao ở nhóm người này. Ở các nước đang phát triển, do tình trạng dân số trẻ hóa nên có nhiều trường hợp Đái tháo đường type 2 xảy ra ở lứa tuổi trẻ và trung niên [4]

5. Sự phát triển của thai nhi.

Có mối liên quan giữa trọng lượng lúc sinh và chuyển hóa glucose-insulin bất thường về sau. Gần đây người ta quan tâm đến mức độ ảnh hưởng đến nguy cơ mắc Đái tháo đường của việc phát triển thai nhi trong tử cung người mẹ. Con của những người mẹ bị Đái tháo đường thường lớn và nặng cân khi sinh, thường có khuynh hướng bị béo phì trong thời kỳ niên thiếu và nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 sớm. Phần lớn nguy cơ mắc Đái tháo đường về sau ở trẻ là hậu quả của việc tiếp xúc với môi trường Đái tháo đường bên trong tử cung. Những trẻ do mẹ mắc bệnh Đái tháo đường sinh ra thì có nguy cơ mắc Đái tháo đường về sau gấp 3 lần những trẻ được sinh trước khi mẹ mắc bệnh. Đái tháo đường xảy ra sớm ở những người có mẹ mắc Đái tháo đường và làm gia tăng hơn nữa nguy cơ mắc bệnh cho những thế hệ tiếp theo [5].

Để nắm rõ hơn các kỹ năng sơ cứu trong các tình huống khẩn cấp, bệnh thường gặp, quý độc giả có thể tham khảo thêm thông tin tại các Khoá học từ Wellbeing: Tại Đây

Tài liệu tham khảo:

1. Center for Disease Control and Prevention và National Diabetes Fact Sheet (2011), Fast Facts on Diabetes, CDC - Info Atlanta GA 30341 - 3717. USA,pp.11.

2. Farouq I, Al Zurba và Ahmad Al Garf (2006), "Prevalence of diabetes mellitus among Bahrainis attending primary health care centres", The Eastern Mediterranean Health Journal. 2 (2), pp. 274.

3. Powers A.C (2008), Diabetes Mellitus, The Principles of Harrison’s Internal Medicine, McGraw Hill Medical, 17th, pp. 2280 – 2282

4. American Diabetes Association (2011), Standards of Medical Care in Diabetes - 2011, Diabetes Care, Vol. 34 (1), p. S13.

5. Haffner S.M (2007), "The Prediabetic Problem: Development of non - insulin - dependent diabetes mellitus and related abnormalities", Journal of Diabetes and Its Complications. 11 (2), pp.69.

 


Cũ hơn Mới hơn


X
Hỏi-đáp
Đăng ký ngay