Các khóa học đã đăng ký

Bật mí 8 nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch | Wellbeing

Nguyễn Thị Hiên| Điều phối Dự án Sơ cứu nhanh – Giành sự sống

Tổ chức Giáo dục sức khỏe Wellbeing

tim-mạch-wellbeing

Bnh tim mch đã và đang là vn đề sc kho được quan tâm hàng đầu trên thế gii vi t l t vong và tàn phế đứng hàng đầu. Ước tính ca T Chc Y Tế Thế Gii (WHO) cho thy, hàng năm có khong 17 triu người b t vong do bnh tim mch. Hu hết các bnh lí tim mch hin nay là do xơ va động mch, do vy, yếu t nguy cơ ca các bnh tim mch được bàn đến thường liên quan đến quá trình hình thành và phát trin ca xơ va động mch . Vậy những nhóm đối tượng nào có nguy cơ cao?

1.Nhóm đối tượng có huyết áp cao

tim-mạch-wellbeing

Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất và cũng là yếu tố nguy cơ được nghiên cứu đầy đủ nhất. THA được coi là kẻ giết người thầm lặng và là nguy cơ mạnh nhất gây các biến cố tim mạch. Huyết áp tăng thường không có triệu chứng gì và gây ra một loạt các biến chứng nguy hiểm đến tim mạch.

2.Nhóm đối tượng người cao tuổi

tim-mạch-wellbeing

Ở Việt Nam trước kia người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi cao. Hiện nay, khái niệm người cao tuổi được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ “người cao tuổi” ( Xem thêm : Cơ thể người cao tuổi khác chúng ta như thế nào?) bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với từ “người già”.Tuy nhiên về khoa học thì người cao tuổi hay người già đều được dùng với ý nghĩa như nhau.

Nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch tăng lên khi tuổi đời bạn cao hơn. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, tuổi tác là một trong những yếu tố dự đoán bệnh tật quan trọng nhất. Hơn nửa số người bị đột quỵ tim mạch và tới bốn phần năm số người bị chết vì đột quỵ có tuổi cao hơn 65. Tất nhiên là bạn không thể giảm bớt tuổi đời của mình được nhưng việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể giúp làm chậm lại quá trình thoái hoá do tuổi tác gây ra.

3.Nhóm đối tượng béo phì

tim-mạch-wellbeing

Béo phì là một trong yếu tố nguy cơ chính của bệnh. Nguy cơ mắc bệnh xơ vữa mạch vành càng cao nếu béo phì chủ yếu ở phần bụng. Béo phì thường đi kèm với nhiều yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid, rối loạn dung nạp glucose. Người béo phì dễ mắc bệnh đái tháo đường type 2 cao hơn 40% so với người nhẹ cân. Các chuyên gia tim mạch thế giới thống kê có đến trên 19 triệu số người bị béo phì tử vong do nhồi máu cơ tim hàng năm.

4.Nhóm đối tượng có bệnh đái tháo đường

tim-mạch-wellbeing

Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường type II, có tỉ lệ mới mắc bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn người bình thường. Bản thân người bệnh đái tháo đường cũng thường chết vì nguyên nhân tim mạch. Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn. Những người đái tháo đường type II thường có nồng độ insulin trong máu cao, và kèm theo tình trạng kháng Insulin. Đái tháo đường và đề kháng Insulin làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch. Hậu quả, là thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó.

Trong thực tế, giảm cân nặng và tập luyện có khả năng thúc đẩy quá trình sử dụng đường và giúp bạn ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường. Việc điều trị khống chế tốt đường huyết (nếu bạn bị) sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch.

Những người bị đái tháo đường từ khi còn trẻ (gọi là đái tháo đường type I) lại có nhiều nguy cơ tổn thương thận và mắt hơn là bệnh mạch vành hay đột quỵ. Trong trường hợp này, insulin bị thiếu hụt trầm trọng do bệnh lý ở tuỵ.

5.Nhóm đối tượng rối loạn mỡ máu

Tăng hàm lượng các chất lipid (mỡ) trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp và là một trong những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch. Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol, trong đó, hai thành phần quan trọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Khi nồng độ LDL-C tăng là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ bạn, và khi hàm lượng HDL-C trong máu càng thấp thì nguy cơ bị bệnh tim mạch càng cao. Tăng triglycerid, một thành phần mỡ máu khác, cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

6.Nhóm đối tượng hút thuốc lá

tim-mạch-wellbeing

Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào) là một yếu tố nguy cơ đã rõ làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại vi cho dù những người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn những người không hút thuốc. Bên cạnh đó, hút thuốc lá còn gây ung thư phổi và các bệnh lí khác.

7.Nhóm đối tượng hay bi stress

tim-mạch-wellbeing

Ngoài ra trạng thái stress, ít vận động thể lúc , sử dụng kéo dài các loại vitamin... cũng là 1 trong các nguyên nhân nhồi máu cơ tim.

8.Nhóm đối tượng thường xuyên uống rượu

tim-mạch-wellbeing

Hiện nay, các khuyến cáo cho rằng, nếu sử dụng điều độ, tức không quá một đơn vị uống mỗi ngày, uống rượu không gây nguy cơ tim mạch và trong chừng mực nào đó có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, có lẽ rượu đã làm tăng lượng HDL-C trong máu (rượu vang đỏ).

Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có đầy đủ bằng chứng và sự thống nhất khuyến cáo mọi người uống rượu một cách hệ thống. Hơn nữa, uống quá nhiều rượu (nhiều hơn một đơn vị uống: tương đương 60ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu nặng) mỗi ngày lại có thể có hại cho sức khoẻ. Lúc đó rượu có thể làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác, một vài trong số đó lại là các rối loạn về tim mạch.

     Trên đây là những khuyến cáo về nguy cơ gặp các bệnh về tim mạch theo hội Tim mạch quốc gia Việt Nam, hi vọng bài viết đã cung cấp cho bạn đọc những kiến thức bổ ích và thiết thực.

Bài viết có tham khảo:

Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch, Theo hội tim mạch quốc gia Việt Nam

Xem thêm: 

Bật mí về hệ tuần hoàn trong cơ thể

Tim – sự kỳ diệu của tạo hóa

 

X
Hỏi-đáp
Đăng ký ngay